Trang chủ

     

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010

Tiếng Việt thời đất nước hội nhập - Hà Tùng Sơn

     NDX: Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tham luận của Nhà báo, Nhà giáo Hà Tùng Sơn tại Hội thảo khoa học về Giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt trong thời kì đất nước hội nhập do hai trường ĐH Sài Gòn và ĐH HUFLIT tổ chức ngày 18-6-2010.
     Trước khi làm báo, HTS từng là giảng viên trường Đại học Qui Nhơn. Khi thực hiện tham luận này anh là Trưởng Ban biên tập đài Phát thanh-Truyền hình Bình Định. Hiện anh là giảng viên trường Đại học Văn Hiến, Tp Hồ Chí Minh.
     Nhan đề đầy đủ của tham luận là: Giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt trên các phương tiện thông tin báo chí trong thời kì đất nước hội nhập.

Tác giả trình bày tham luận tại Hội thảo

     Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một mục riêng đã được ghi rõ ở Điều 6: “Nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí” trong Luật báo chí Việt Nam. Xã hội càng phát triển, đất nước càng hội nhập với thế giới thì thông tin trên các phương tiện truyền thông và báo chí càng trở nên hết sức cần thiết và ngày càng gắn bó với đời sống các tầng lớp người trong xã hội. Hơn lúc nào hết, báo chí ngày nay đang trở thành một phương tiện cung cấp thông tin hiệu quả nhất và đồng thời là diễn đàn của nhân dân. Cùng với sự hội nhập ngày càng sâu của đất nước trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, báo chí nước ta đã không ngừng đổi mới để phản ánh kịp thời quá trình phát triển và hội nhập ấy. Tiếng Việt là một sinh ngữ đang không ngừng phát triển, và ngôn ngữ trên báo chí cũng không nằm ngoài qui luật ấy để góp phần không nhỏ vào sự phát triển của tiếng Việt hiện đại.
     Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, báo chí đã bộc lộ không ít những nhược điểm trong sử dụng từ ngữ, văn phạm làm phương hại đến đến sự trong sáng của tiếng Việt, làm ảnh hưởng không nhỏ và tạo nên sự lệch lạc trong lỗi dùng từ của một bộ phận người đọc báo, người nghe đài, xem truyền hình.
     Về tu từ:
     Trong quá trình tác nghiệp hàng ngày với công việc chính là biên tập tin bài và chương trình phát sóng cũng như đọc báo, nghe đài xem truyền hình, chúng tôi có một nhận xét chung là khả năng tu từ học cũng như kỹ năng diễn đạt của báo chí nước ta đang ngày càng pha tạp giữa ngôn ngữ thuần Việt với ngôn ngữ nước ngoài. Khiến câu chữ trên báo chí lắm lúc trở nên ngô nghê, khó hiểu hoặc khô cứng. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể là do các nhà báo của ta trong quá trình học và sử dụng ngoại ngữ đã mang theo thói quen sử dụng cấu trúc của câu văn tiếng nước ngoài vào câu văn Việt; hoặc là muốn viết cho khác người, cho lạ, cho hiện đại. Ví dụ: Bản quy hoạch này được thực hiện bởi một nhóm các kiến trúc sư trẻ; Cú đâm nhau chí mạng được xảy ra giữa hai xe máy phóng ngược chiều với một tốc độ rất cao; Sự cạn dần đi của nguồn nước được xảy ra khi các nhà máy thuỷ điện mọc lên chi chít trên thượng nguồn các con sông.v.v. Những câu trên đều có thể diễn đạt lại theo lối thuần Việt, xuôi tai và dễ hiểu hơn, nhất là với số đông người bình dân: Một nhóm kiến trúc sư trẻ đã thực hiện bản qui hoạch này; hai xe máy phóng ngược chiều với tốc độ rất cao đã đâm nhau một cú chí mạng; Các nhà máy thủy điện mọc lên chi chít trên thượng nguồn các con sông đã làm cho nguồn nước bị cạn dần đi .v.v. Chính cách viết theo cấu trúc đặt trước từ “được” những động từ và tính từ đã làm nên những câu văn kiểu tây tây như thế. Trong lúc cách nói truyền thống của người Việt ta là Chúng ta đi trên đường tắc nghẽn quá; không ai nói Chúng ta tắc nghẽn quá bởi con đường đi. Nghe cứ như là văn dịch. Tất nhiên là dù nói và viết theo cách nào thì người đọc người nghe cũng hiểu Chúng ta đi trên một con đường tắc nghẽn; và con đường tắc nghẽn mà chúng ta đang đi. Về nghĩa giữa hai câu thì giống nhau nhưng diễn đạt theo câu thứ hai thì vụng về và nặng nề lắm. Trong khẩu ngữ thì có thể nói như thế nhưng trên báo chí thì không nên chút nào. Trên thực tế, việc đưa khẩu ngữ vào các bài báo của số đông các nhà báo đang ngày càng phổ biến. Và đó là một thói quen xấu, khi báo chí được xem là một phương tiện truyền thông phổ cập và cổ điển.
     Ngay ở cách đặt đầu đề (title) cho bài báo cũng nhiều lúc chưa ổn, thậm chí gây bức bối cho người đọc báo. Một title bài phải sao cho ngắn gọn và kín, đọc qua title bài, bạn đọc sẽ thấy ngay bài báo sẽ có nội dung về vấn đề gì nhưng đồng thời ngay ở cái title cũng cần gây được sự chú ý, tò mò cho người đọc. Ví dụ: Mất bảy mạng người trong một vụ hoả hoạn. Đọc cái title này bạn đọc sẽ biết nội dung bài báo là nói về một vụ hoả hoạn nghiêm trọng gây chết đến bảy người. Nhưng người ta cũng cần biết là vụ cháy xảy ra ở đâu, vào lúc nào, diễn biến như thế nào và nguyên nhân do đâu. Và vì thế mà người ta sẽ đọc hết bài báo để nắm các thông tin trên. Nhưng nếu cũng với bài báo trên mà đặt title: Vụ hoả hoạn ở Bình Dương vì sao mất đến bảy mạng người? Với dấu (?) ở cuối thì sẽ khiến cho người đọc khó chịu. Bởi người đọc đến với bài báo đó là để tìm đến với sự thật chứ không phải là đi tìm câu trả lời mà nhà báo đặt ra. Ở trường hợp này chỉ có một trong hai khả năng: do có người đốt hoặc do bất cẩn. Vậy chỉ có thể đặt title với sự khẳng định: Vụ hoả hoạn ở Bình Dương là do có người đốt; hoặc Vụ hoả hoạn ở Bình Dương là do bất cẩn.
     Trong trường hợp cụ thể này, nếu chưa xác định được nguyên nhân thì chỉ nên đặt title: Đi tìm nguyên nhân vụ hoả hoạn ở Bình Dương là đủ. Tương tự không nên đặt các title bài kiểu: Tăng giá xăng trong thời điểm này liệu có thích hợp? Trong trường hợp này nếu quan điểm của nhà báo là không thích hợp thì khẳng định luôn là: Tăng giá xăng trong thời điểm này là không thích hợp; ngược lại thì nói: Tăng giá xăng trong thời điểm này là thích hợp. Gần đây báo chí ta còn có tình trạng phổ biến đặt câu hỏi với dạng động từ + tại sao không? Ví dụ: Cá cược bóng đá, tại sao không?; Hoặc Tết sách, tại sao không? ... Nói kiểu ấy một vài lần thì được, nói hoài kiểu câu hỏi ấy thì gây khó chịu cho người đọc. Người đọc báo có quyền bắt bẻ lại nhà báo với những cái title cụ thể hơn: Có thể/không thể cá cược bóng đá; hoặc Nên/không nên có tết sách ...
     Tóm lại, phương pháp tu từ của một bài báo nên được bắt đầu và chú ý ngay từ đầu đề của bài báo chứ không chỉ là ở câu chữ trong bài báo. Đa số bạn đọc không thú vị gì với các title bài đồng thời là một câu hỏi. Bởi nhiệm vụ của họ không phải là đi tìm câu trả lời mà là tìm đến với sự thật là câu trả lời của nhà báo nằm trong nội dung bài báo. Và như vậy, cũng có nghĩa là các title bài không nên là những câu hỏi. Trong lúc đó thì đáng buồn thay đang có nhan nhản những title đề như thế trên các trang báo ra hàng ngày.
     Về sử dụng từ:
     Như đã biết, lượng từ Hán – Việt chiếm đến 70% trong ngôn ngữ tiếng Việt. Chúng ta không máy móc là phải Việt hoá tất cả các từ Hán – Việt để cho tiếng Việt được trong sáng. Và trên thực tế không phải từ Hán – Việt nào cũng có thể Việt hoá được. Tuy nhiên, lạm dụng và sử dụng quá nhiều từ Hán – Việt trong khi có thể sử dụng từ thuần Việt là không nên. Điều này trong giới ngôn ngữ học đã nói nhiều, chúng tôi xin không nhắc lại. Điều chúng tôi muốn nói là tình trạng sử dụng sai từ Hán – Việt trong báo chí. Rõ nhất là ở từ khiêm tốn. Ai cũng biết khiêm tốn là từ dùng để chỉ một phẩm chất tốt của con người. Ông ấy giỏi nhưng khiêm tốn lắm; Những người thông minh là những người biết khiêm tốn. Bác Hồ cũng dạy các cháu thiếu niên nhi đồng là Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Từ nghịch nghĩa với khiêm tốn là tự cao, một thói xấu của con người. Tuy nhiên gần đây từ khiêm tốn đang được dùng để chỉ những cái gì còn ít, như là một từ định lượng. Ví dụ: Kết quả đạt được của doanh nghiệp trong năm qua còn khiêm tốn; hoặc: Thành tích của đội bóng A trong mùa bóng vừa qua là quá khiêm tốn ... thậm chí có nhà lãnh đạo khi đi nước ngoài cũng đã phát biểu: Tiềm năng hợp tác kinh tế giữa hai nước Việt – Nga là rất to lớn nhưng những năm qua, chúng ta thực hiện còn quá khiêm tốn. Tôi không hình dung được trong trường hợp trên, nếu dịch bằng máy thì cái máy dịch sẽ dịch như thế nào. Tại sao không nói thẳng, nói rõ ra là ... còn ít; ... còn thấp mà lại thay từ khiêm tốn vào đấy. Nếu vậy, chúng ta phải hiểu từ khiêm tốn trong Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên và nhi đồng “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” như thế nào đây! Chẳng thế mà có độc giả đã viết bài than phiền về cái sai phổ biến và trầm trọng của báo chí khi dùng từ khiêm tốn với nhan đề chua chát: Tôi sợ khiêm tốn lắm rồi!
     Đó là cái sai rất đậm nét trong dùng từ Hán – Việt mà không ít người đã lên tiếng phê phán nhưng chưa thấy ai sửa, ngược lại kiểu sai này ngày càng phổ biến và trầm trọng hơn. Báo chí, hơn ai hết phải thấy được khả năng lan toả và tác động to lớn của mình trong đời sống xã hội để từ đó cũng phải cẩn trọng hơn ai hết trong sử dụng từ ngữ.
     Một cái sai khác trong dùng từ cũng đang rất phổ biến trong báo chí của ta là dùng từ bà con, nhất là trong các bài báo, các chương trình phát thanh và truyền hình hướng về đối tượng đọc và nghe là nông dân, đồng bào các dân tộc thiểu số. Ví dụ: Bà con và các bạn thân mến! Theo từ điển tiếng Việt, nghĩa của từ bà con là để chỉ những người có cùng quan hệ huyết thống, có quan hệ họ hàng thân thuộc bên nội, bên ngoại với nhau… Có lẽ khi các nhà báo và các báo, đài gọi đối tượng hướng tới để tuyên truyền của mình, những người nông dân, những đồng bào các dân tộc thiểu số là bà con nhằm tạo sự gần gũi, thân thiết. Nếu vậy khi viết về những người công nhân, những tầng lớp lao động khác trong xã hội thì không cần sự bà con gần gũi đó hay sao! Đó là chưa nói tới chuyện người nông dân trong xã hội ta ngày nay cũng đã được nâng cao về dân trí và các nhận thức khác, họ sẽ không muốn cánh báo chí gọi mình theo lối mị dân, nhận vơ như thế. Và khi đó, tác dụng tuyên truyền sẽ bị giảm sút do lỗi dùng từ không chính xác.
     Trong trường hợp này, nên thay từ bà con bằng đồng bào là thích hợp hơn cả: Đồng bào và các bạn thân mến! Bởi rằng, đồng bào là một từ gốc Hán nhưng không hề xa lạ trong tiếng Việt.
     Lỗi trong dùng từ theo kiểu khẩu ngữ cũng đang phổ biến trên các mặt báo. Có lẽ chưa có bao giờ mà lời ăn tiếng nói thông thường trong cuộc sống hàng ngày lại được các nhà báo sử dụng thoải mái đến mức hồn nhiên như hiện nay. Tác dụng của nó là khiến cho báo chí trở nên gần gũi hơn với người đọc nhưng nếu lạm dụng quá thì sẽ làm mất đi tính nghiêm túc của bài báo, và của cả tờ báo.
     Chẳng hạn một từ đang được báo chí dùng rất thịnh hành là bật mí. Ví dụ: Bật mí về hậu trường làm phim truyền hình Việt Nam; hoặc Bật mí về những cây xăng gian lận thương mại ở Long An .v.v. Ai cũng biết, bật mí là nói lái của từ bí mật, như một sự chơi chữ, nhằm chỉ những điều đã bị lộ diện, không còn bí mật nữa. Dùng ở ngoài sách vở theo dạng khẩu ngữ, ngôn ngữ đường phố không thì không sao nhưng nếu sử dụng chính thức trên báo chí sẽ làm mất hẳn sự nghiêm túc của bài báo, biến một vấn đề nghiêm túc thành một sự bông lơn, đùa cợt.
     Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ, lượng từ mới xuất hiện ngày càng nhiều và đi vào đời sống ngôn ngữ như một lẽ tự nhiên. Điều đó làm cho ngôn ngữ nước nhà ngày càng phong phú. Tuy nhiên, không phải từ mới nào cũng có lí để tồn tại. Lẫn trong những từ mới, đã có những từ ghép được các nhà báo “sáng tạo” một cách khập khễnh, làm biến dạng cả tiếng Việt. Ví dụ: viết thanh thiếu nhi thay cho viết đầy đủ là thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; chi đảng bộ thay cho chi bộ, đảng bộ; khán thính giả thay cho khán giả, thính giả; phối kết hợp thay cho phối hợp, kết hợp .v.v. Thực ra các trường hợp trên chỉ là một cách viết tắt chứ không phải là những từ ghép. Trong khẩu ngữ khi nói không chính thức có thể dùng nhưng khi đi vào văn bản viết của ngôn ngữ báo chí thì không nên bởi nó làm mất đi độ chính xác và tính nghiêm túc của bài báo. Nếu chấp nhận “sáng tạo” và cứ phát triển theo xu hướng trên thì sẽ có lúc dùng ngoan cố thay cho ngoan ngoãn và cố gắng; cao xà lá thay cho cao su, xà phòng, thuốc lá. Như vậy có mà loạn từ ngữ! Phát hiện và sử dụng cái mới là một điều tích cực nhưng không phải cái gì khác lạ cũng là cái mới.
     Về dùng từ nước ngoài:
     Khi đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có ngôn ngữ cũng tham gia mạnh mẽ vào quá trình hội nhập ấy. Ngày nay, khi lật bất cứ trang báo nào, người đọc cũng có thể thấy ngay những từ nước ngoài được sử dụng một cách phổ biến như: Phone, fax, mail, website, blog, computer, hacker, show, live show, game show, shopping v.v. và v.v. Đó là những từ nước ngoài mà con người trong thế giới hiện đại dù ở bất cứ quốc gia nào cũng không thể không sử dụng. Bởi dù có bảo thủ đến đâu chúng ta cũng khó mà thay thế các từ thuần Việt vào các từ nước ngoài như fax, mail, website, blog ... Trong trường hợp nếu cố tình thay thế, chúng ta sẽ có cách diễn đạt dài dòng, thậm chí là không chính xác, không rõ nghĩa. Có thể khẳng định rằng, với sự xuất hiện ngày càng dày đặc các từ nước ngoài trên các phương tiện truyền thông mà chỉ cách đây mấy năm còn xa lạ nhưng nay đã trở nên quen thuộc với số đông đã góp phần cho sự diễn đạt chính xác và làm phong phú thêm cho ngôn ngữ Việt nói chung và ngôn ngữ báo chí nói riêng. Mặt khác, điều đó cũng góp phần nói lên sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước ta ngày nay.
     Tuy nhiên, cùng với sự tiếp thu và Việt hoá được nhiều cái hay của từ ngữ nước ngoài trong thời buổi đất nước hội nhập thì có một điều chúng ta đã nói rất nhiều, rất lâu rồi nhưng ngày càng trở thành một thói quen xấu là việc lạm dụng từ nước ngoài, sử dụng từ nước ngoài trong những trường hợp không cần thiết. Tình trạng này làm cho tiếng Việt bị mất đi sự trong sáng, thậm chí bị biến dạng, lai căng trông rất kệch cỡm. Điều đáng báo động là xu hướng này đang ngày càng thịnh hành, nhất là thói quen sử dụng tiếng Anh thay cho tiếng Việt ngay cả trong những trường hợp không cần thiết.
     Có lẽ ngày nay, chỉ trừ số ít tờ báo như Nhân dân, Quân đội nhân dân, Tiền phong (tiếc là những tờ báo này lại ít người đọc) thì đa số các mặt báo còn lại, nhất là báo điện tử, báo mạng, thậm chí cả trong các văn bản hành chính; rồi cách gọi, cách đặt tên cho sự kiện cũng nhan nhản sự lạm dụng từ tiếng Anh. Như không nói là liên hoan mà nói là festival. Trong các cuộc liên hoan mang phạm vi quốc tế thì dĩ nhiên là và hoàn toàn có thể sử dụng từ festival như Festival thanh niên, sinh viên quốc tế ; Festival Huế (với thành phần tham gia có nhiều khách quốc tế)… nhưng cũng có những liên hoan mà tính quốc tế hầu như không có hoặc có rất ít như Festival lúa gạo ; Festival trái cây ; Festival thuỷ sản Cần Thơ, Festival thanh niên nông thôn, Festival Tây Sơn Bình Định v.v. thì hoàn toàn nên gọi là liên hoan chẳng những là để giữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt mà còn là để gần gũi với đa số nhân dân, nhất là với nông dân. Ngoài ra có thể kể thêm cho những trường hợp lạm dụng tiếng Anh như : dùng building, villa thay cho nhà cao tầng, biệt thự ; sale off thay cho hạ giá ; scandal thay cho bê bối ; collection thay cho sưu tập. Ngay cả khu du lịch nổi tiếng ở Nha Trang hoàn toàn được xây dựng với sự đầu tư của người Việt nhưng lại được đặt tên là Vinpearland chứ không chịu gọi là Hòn ngọc Việt, một cái tên thuần Việt vừa đẹp vừa nhiều ấn tượng. Hình như là có một bộ phận người Việt cho rằng có gọi theo tên Tây như thế thì mới sang, mới hiện đại ; còn gọi theo tiếng Việt thì bị giảm giá( !).
     Trong phạm vi vấn đề này, như đã nói ở trên, chúng tôi không phản đối mà ngược lại, còn phần nào ủng hộ việc sử dụng những từ ngữ nước ngoài trong những trường hợp không thể dùng tiếng Việt, hoặc nếu cố tình sử dụng tiếng Việt sẽ làm cho câu chữ dài dòng, không nói hết nghĩa của từ và thuật ngữ. Chẳng hạn trong việc sử dụng mạng thông tin điện tử thì dùng mail, fax, hacker, gameshow, forum … Hoặc trong hệ thống các trang blog hoàn toàn mang tính cá nhân thì người chủ các blog có thể dùng từ theo ý‎ thích của họ. Chẳng hạn dùng entry, comment, post, up… thay cho các từ tiếng Việt tương đương, bởi chúng chỉ giới hạn trong phạm vi cá nhân hoặc trong một bộ phận người dùng. Tuy nhiên, nếu qúa lạm dụng và nhân bản ra với cả các loại hình báo chí chính thống khác thì chắc chắn là sẽ loạn ngôn ngữ. Cái gì cũng nên có giới hạn của nó.
     Ở đây, chúng tôi muốn đề cập thêm đến việc sử dụng không chính xác hoặc sai nghiêm trọng khi sử dụng từ Hán – Việt hoặc từ gốc Hán của báo chí. Chúng tôi xin dẫn ra đây hai ví dụ tiêu biểu: Ai cũng biết nước Việt ta từ xưa đến nay mới chỉ có duy nhất một bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố trong ngày Quốc khánh 2 – 9 – 1945 tại Hà Nội. Vậy mà trong không ít các lời dẫn chương trình, các bài viết trên một vài tờ báo, các biên tập viên và người dẫn chương trình khi nói đến bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và bài Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi vẫn cho rằng đó là hai bản tuyên ngôn độc lập khác nữa của nước Việt Nam ngoài bản Tuyên ngôn nói trên do Hồ Chí Minh công bố ; và khẳng định luôn là nước ta có đến ba bản tuyên ngôn độc lập. Trong lúc thực ra, hai tác phẩm kể trên của Lý Thường Kiệt và Nguyễn Trãi xét về mặt ‎ ý nghĩa chỉ có giá trị như một lời tuyên ngôn mà thôi. Một trường hợp sai nghiêm trọng khác khi sử dụng từ Hán Việt: trong một chương trình trò chơi mang tên Rồng vàng của Đài HTV : Khi giải thích từ bạn đồng môn, người dẫn chương trình này, một nghệ sỹ nổi tiếng đã nói bạn đồng môn là những người cùng học chung một môn học trong lúc đúng ra phải hiểu rằng đó là những người cùng học một trường. Ngườidẫn chương trình, và ở đây là cả người soạn đáp án, người biên tập chương trình đã nhầm lẫn chữ môn nghĩa là cổng, cửa với môn là môn học. Những hạt sạn to như thế ngày nay trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, báo mạng … có mà nhặt cả ngày cũng không hết.
     Mấy đề xuất:
     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng nhắc nhở nhân dân ta, nhất là các nhà giáo, nhà văn, nhà báo phải giữ gìn tốt và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt. Người yêu cầu chúng ta phải luôn làm cho tiếng nói, chữ viết của ta ngày càng thêm đẹp, thêm phong phú và hiện đại. Tự bản thân mình, Hồ Chí Minh cũng là một tấm gương mẫu mực trong lĩnh vực này.
     Trước thực trạng đáng lo ngại như đã trình bày ở trên, tôi đề nghị các nhà ngôn ngữ, các nhà giáo từ Hội thảo khoa học này, kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quốc hội và Chính phủ mở một phong trào mang tên Giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt. Phong trào này sẽ được thực hiện rộng rãi trong toàn dân nhưng trước hết và khoanh vùng trọng điểm thực hiện là trong các ngành giáo dục, văn hóa, thông tin và truyền thông.
     Đề nghị Nhà nước cũng nên có các qui định chặt chẽ, các cơ quan nhà nước, chính phủ, các tổ chức, Viện Ngôn ngữ có trách nhiệm đề xuất cụ thể xây dựng chuẩn ngôn ngữ nói chung và sử dụng từ nước ngoài nói riêng trong hệ thống các loại văn bản, nhất là văn bản của nhà nước, trong trường học, trên báo chí …
     Trên các báo và tạp chí nên có nhiều bài viết về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là mở các mục kiểu như mục Dọn vườn của báo Văn nghệ. Mục này vốn rất được bạn đọc chú ý và thích thú nhưng có lẽ do ngày nay có quá nhiều cỏ rác dọn không xuể nên duy trì không đều.
     Hãy xem việc giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là trong thời kì hội nhập này, là một trong những biểu hiện, là một nội dung của lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
HTS